Trong năm chuẩn, các tháng dương lịch có 30 ngày gồm tháng 4, tháng 6, tháng 9 và tháng 11. Các tháng còn lại có 31 ngày (tháng 1, 3, 5, 7, 8, 10, 12), riêng tháng 2 có 28 hoặc 29 ngày tùy năm nhuận. Để chuyển đổi dương lịch sang âm lịch, người ta kết hợp quy luật số ngày này cùng việc tính toán Can Chi và các pha Mặt trăng.

Nắm rõ số ngày của từng tháng giúp việc quản lý kế hoạch công việc và đối chiếu các mốc thời gian truyền thống trở nên thuận tiện hơn.
Danh sách các tháng dương lịch có 30 ngày và mẹo ghi nhớ
Dương lịch hiện hành (lịch Gregory) phân bổ độ dài các tháng cố định để khớp với chu kỳ 365,2422 ngày của Trái Đất quay quanh Mặt Trời. Nhóm các tháng dương lịch có 30 ngày gồm đúng 4 tháng: tháng 4, tháng 6, tháng 9 và tháng 11.

Phương pháp đơn giản nhất để ghi nhớ số ngày trong tháng là quy tắc nắm bàn tay:
- Khớp ngón tay nhô lên: Đại diện cho các tháng có 31 ngày (tháng 1, 3, 5, 7, 8, 10, 12).
- Khoảng lõm giữa hai khớp: Đại diện cho các tháng có 30 ngày (tháng 4, 6, 9, 11) hoặc tháng 2 có 28 hoặc 29 ngày.
Sự khác biệt cốt lõi giữa dương lịch và âm lịch
Dương lịch tính toán dựa trên chu kỳ chuyển động biểu kiến của Mặt Trời, quy định thời tiết bốn mùa và độ dài năm. Ngược lại, âm lịch (chính xác hơn là âm dương lịch Á Đông) kết hợp chuyển động của Mặt Trăng quanh Trái Đất để định ngày trong tháng, đồng thời dùng các tiết khí mặt trời để điều chỉnh năm.

Mỗi tháng âm lịch bắt đầu vào ngày chứa điểm Sóc (thời điểm Mặt Trăng nằm giữa Trái Đất và Mặt Trời). Chu kỳ tuần trăng trung bình dài khoảng 29,53 ngày, do đó tháng âm lịch chỉ có 29 ngày (tháng thiếu) hoặc 30 ngày (tháng đủ), ngắn hơn so với các tháng dương lịch có 30 ngày hay 31 ngày.
Cách tính nhẩm năm âm lịch theo Can Chi từ năm dương lịch
Để đổi một năm dương lịch sang tên năm âm lịch Can Chi, ta tách riêng việc tìm Thiên Can và Địa Chi qua hai phép tính đơn giản.

1. Xác định Thiên Can
Thiên Can được xác định trực tiếp bằng chữ số cuối cùng của năm dương lịch:
- 0: Canh
- 1: Tân
- 2: Nhâm
- 3: Quý
- 4: Giáp
- 5: Ất
- 6: Bính
- 7: Đinh
- 8: Mậu
- 9: Kỷ
2. Xác định Địa Chi
Địa Chi được tìm bằng cách lấy hai chữ số cuối hoặc toàn bộ năm dương lịch trừ đi 3 rồi chia cho 12 lấy số dư (hoặc lấy năm cộng thêm 8 rồi chia lấy dư cho 12). Giá trị số dư tương ứng với 12 con giáp:
- Dư 0: Tý
- Dư 1: Sửu
- Dư 2: Dần
- Dư 3: Mão
- Dư 4: Thìn
- Dư 5: Tỵ
- Dư 6: Ngọ
- Dư 7: Mùi
- Dư 8: Thân
- Dư 9: Dậu
- Dư 10: Tuất
- Dư 11: Hợi
Ví dụ đổi năm 1967: Số cuối là 7 tương ứng can Đinh. Lấy (1967 – 3) chia 12 dư 8, hoặc theo công thức (1967 + 8) % 12 được 1975 % 12 dư 7. Do quy ước đối chiếu số dư: nếu dùng công thức lấy năm trừ 3 chia 12 thì dư 8 ứng với Mão; nếu dùng (năm + 8) % 12 thì dư 7 ứng với Mão. Kết quả năm 1967 là Đinh Mão.
Nguyên lý thiên văn xác định ngày mồng 1 và tháng nhuận âm lịch
Tính chính xác từng ngày âm lịch đòi hỏi các mô hình tọa độ thiên văn thực tế thay vì công thức số học cố định.

- Xác định ngày Sóc: Ngày dương lịch chứa thời điểm Sóc theo múi giờ địa phương (Việt Nam dùng múi giờ UTC+7) được tính là ngày mồng 1 của tháng âm lịch.
- Xác định tháng 11 âm lịch: Tháng âm lịch nào chứa điểm Trung khí Đông chí (khi kinh độ Mặt Trời đạt 270 độ) sẽ luôn là tháng 11 âm lịch của năm đó.
- Xác định tháng nhuận: Giữa hai điểm Đông chí liên tiếp nếu có 13 điểm Sóc thì năm đó có tháng nhuận. Tháng nhuận là tháng đầu tiên sau Đông chí không chứa điểm Trung khí nào.
Công cụ tra cứu ngày âm lịch chính xác
Do thuật toán thiên văn phức tạp và biến thiên theo từng múi giờ, việc tính thủ công ngày âm lịch cụ thể từ ngày dương lịch rất dễ sai lệch.

Người dùng nên ưu tiên đối chiếu qua sách Lịch Vạn Niên do các viện nghiên cứu phát hành, sử dụng ứng dụng lịch hệ điều hành có tích hợp âm lịch Việt Nam, hoặc tra cứu tại các cổng thông tin thiên văn chuẩn. Khi sử dụng công cụ số, cần đảm bảo thiết bị cài đặt múi giờ GMT+7 để ngày Sóc không bị lệch sang ngày hôm sau.
