Độ muối nước biển lớn nhất ở vùng chí tuyến với chỉ số trung bình khoảng 36,8‰, nguyên nhân do khu vực này có lượng bức xạ mặt trời lớn, độ bốc hơi cao trong khi lượng mưa hằng năm rất thấp. Ngược lại, độ muối giảm dần ở vùng xích đạo và vùng cực.
Nhiệt độ và độ muối là hai đặc tính vật lý cơ bản của lớp nước mặt đại dương, phân bố có quy luật theo vĩ độ, độ sâu và điều kiện khí hậu khu vực.
Độ muối của nước biển và đại dương phân bố như thế nào?
Độ muối trung bình của toàn bộ nước biển và đại dương trên Trái Đất là 35‰ (phần nghìn), nghĩa là trong 1.000 gam nước biển có chứa khoảng 35 gam muối hòa tan. Trong đó, muối natri clorua (NaCl) chiếm tỷ trọng lớn nhất với khoảng 77,8% tổng lượng muối khoáng tan trong nước.
Phân bố độ muối trên bề mặt đại dương thay đổi theo từng đới vĩ độ:
- Vùng chí tuyến: Có độ muối cao nhất (trung bình 36,8‰) vì nằm dưới các áp cao cận nhiệt đới, trời quang mây, bức xạ mặt trời gay gắt khiến nước bốc hơi nhanh, trong khi lượng mưa rất ít.
- Vùng xích đạo: Độ muối giảm xuống khoảng 34,5‰. Dù nhiệt độ cao nhưng đây là khu vực áp thấp, mưa dồi dào quanh năm và có nhiều hệ thống sông lớn đổ ra biển, làm loãng nồng độ muối.
- Vùng cận cực và cực: Độ muối xuống mức thấp nhất, khoảng 34‰ hoặc thấp hơn, do lượng bốc hơi kém, mưa tuyết nhiều và hiện tượng băng tan theo mùa cung cấp lượng lớn nước ngọt.
Những yếu tố quyết định sự chênh lệch độ muối nước biển
Độ mặn của các vùng biển trên thế giới không đồng đều, phụ thuộc trực tiếp vào mối tương quan giữa nguồn cung cấp nước ngọt và quá trình bốc hơi nước.
- Cân bằng bốc hơi và lượng mưa: Khu vực có lượng bốc hơi lớn hơn lượng mưa thì độ muối tăng cao; ngược lại, vùng mưa nhiều hơn bốc hơi sẽ có độ muối thấp.
- Lưu lượng nước sông đổ vào: Các vùng biển ven bờ tiếp nhận dòng chảy từ những con sông lớn thường có độ mặn thấp hơn đáng kể so với ngoài khơi xa. Ví dụ, Biển Đông có độ muối dao động từ 30‰ đến 34‰ tùy vị trí gần hay xa cửa sông.
- Mức độ đóng kín của biển: Những vùng biển kín, hẹp nằm ở khu vực khô hạn có độ muối rất cao. Điển hình là Biển Đỏ (Hồng Hải) có độ mặn lên tới 40‰ – 41‰ do hầu như không có sông chảy vào và nằm giữa hoang mạc khô cằn. Biển Baltic là biển kín ở xứ lạnh, nhận nhiều nước ngọt từ sông ngòi và băng tan nên độ muối chỉ khoảng 1‰ đến 8‰.
Đặc điểm nhiệt độ nước biển và đại dương
Nhiệt độ nước biển chịu sự chi phối chủ yếu từ nguồn nhiệt bức xạ mặt trời và biến đổi rõ rệt theo hai phương hướng: theo vĩ độ địa lý và theo độ sâu.
Nhiệt độ trung bình toàn bộ lớp nước mặt đại dương thế giới đạt khoảng 17,5°C. Phân bố nhiệt độ bề mặt thay đổi rõ rệt:
- Biến đổi theo vĩ độ: Nhiệt độ nước biển giảm dần từ xích đạo về phía hai cực. Ở vùng xích đạo và nhiệt đới, nhiệt độ nước mặt trung bình năm phổ biến từ 26°C đến 28°C. Đến vùng cận cực và cực, nhiệt độ giảm xuống dưới 5°C, có nơi đóng băng khi nhiệt độ hạ xuống dưới -1,8°C.
- Biến đổi theo độ sâu: Càng xuống sâu, ánh sáng mặt trời càng suy giảm khiến nước biển lạnh dần. Từ mặt nước đến độ sâu khoảng 300m là tầng xáo trộn, nhiệt độ tương đối đồng đều. Từ 300m đến 1.000m (tầng đứt nhiệt), nhiệt độ sụt giảm rất nhanh. Từ độ sâu 3.000m trở xuống đến đáy biển, nhiệt độ duy trì ổn định trong khoảng từ 0°C đến 2°C và hầu như không đổi theo mùa.
- Biến đổi theo mùa và dòng hải lưu: Lớp nước tầng mặt ấm hơn vào mùa hạ và lạnh hơn vào mùa đông. Các dòng hải lưu nóng làm tăng nhiệt độ ven bờ nơi chúng đi qua, trong khi các dòng hải lưu lạnh làm giảm nhiệt độ bề mặt khu vực tiếp giáp.
Điểm cần lưu ý khi học tập và làm bài thi
Học sinh khi ôn tập nội dung Thủy quyển trong môn Địa lý cần chú ý phân biệt rõ ràng hai yếu tố nhiệt độ và độ mặn để tránh nhầm lẫn:
- Nhiệt độ nước biển cao nhất ở vùng xích đạo và giảm đều đặn về hai cực.
- Độ muối không cao nhất ở xích đạo mà độ muối nước biển lớn nhất ở vùng chí tuyến. Sai lầm phổ biến là cho rằng vùng nào nóng nhất thì mặn nhất, bỏ qua yếu tố lượng mưa cực lớn tại xích đạo.
- Đơn vị đo độ muối chuẩn là phần nghìn (‰), không phải phần trăm (%).

